Kỹ thuật gieo trồng các loại rau ăn lá

Kỹ thuật gieo trồng các loại rau ăn lá

  • Rau ăn lá là nhóm rau quen thuộc và không thể thiếu trong bữa ăn hằng ngày của mỗi gia đình Việt. Từ những luống rau muống xanh mướt, những cây cải xanh mơn mởn cho tới xà lách giòn ngọt, mỗi loại đều mang lại nguồn dinh dưỡng dồi dào và hương vị tươi ngon. Việc tự gieo trồng rau ăn lá không chỉ giúp chủ động nguồn thực phẩm sạch, an toàn mà còn mang lại niềm vui và sự thư giãn trong cuộc sống. Tuy nhiên, để rau phát triển đồng đều, ít sâu bệnh và cho năng suất cao, người trồng cần nắm rõ kỹ thuật từ khâu chọn giống, xử lý hạt, chuẩn bị đất, đến chăm sóc sau gieo. Bài viết này sẽ hướng dẫn chi tiết quy trình gieo trồng rau ăn lá, giúp bạn dễ dàng áp dụng dù là trồng trong vườn, thùng xốp hay mô hình canh tác quy mô lớn.

( ảnh minh họa )

Trồng rau ăn lá không cần quá nhiều kỹ thuật nhưng để đạt hiệu quả năng suất cao cần áp dụng đúng kỹ thuật. Sau đây bài viết sẽ hướng dẫn các bạn chi tiết từng bước trong việc trồng rau ăn lá nhé:

1. Chọn đất – Thiết kế cánh đồng trồng rau ăn lá

Về đất chúng ta cần chú ý chọn các loại đất cát pha, thịt nhẹ tức là các loại đất có sa cấu nhẹ dễ thoát nước, đất có độ chua từ hơi chua đến trung tính (pH của đất biến động từ 5 – 7) là tốt nhất.

Rau ăn lá là một loại cây trồng cho năng suất cao, thời gian gieo trồng ngắn, đòi hỏi sự luân canh thường xuyên trong quá trình gieo trồng. Do vậy, cần bố trí quy hoạch theo từng ô, thửa, từng khu vực. Kết hợp hế thống tưới tiêu và giao thông nội đồng nhằm áp dụng cơ giới hoá, vận chuyển vật tư và sản phẩm thu hoạch. Tránh trường hợp bốc dỡ nhiều lần làm dập nát, thất thoát, giảm giá trị của sản phẩm.

Việc quy hoạch thiết kế hệ thống tưới tiêu, giao thông nội đồng phục vụ vận chuyển phải đáp ứng các yêu cầu sau:

– Thoát nước nhanh, chống ngập úng.

– Chủ động sử dụng được nguồn nước tưới.

– Hệ thống giao thông nội đồng thuận tiện cho cơ giới và vận chuyển.

– Tiết kiệm được lao động, đất đai.

– Hệ thống tưới tiêu, giao thông phù hợp với điều kiện địa lý, địa hình của khu vực.

2. Chuẩn bị giống:

( ảnh minh họa )

Giống là loại vật tư kỹ thuật đặc biệt, đóng vai trò như tư liệu sản xuất quan trọng trong trồng rau ăn lá. Chỉ khi có đủ lượng hạt giống chất lượng tốt, người trồng mới chủ động được thời điểm gieo, đảm bảo sản phẩm ra đúng kế hoạch tiêu thụ. Hiện nay, phần lớn hạt giống rau ăn lá được sản xuất trong nước hoặc nhập khẩu, với nhiều lựa chọn từ các công ty uy tín.

Khi chọn giống, cần đặc biệt chú ý đến các tiêu chí kỹ thuật: tỷ lệ nảy mầm đạt trên 85%, độ sạch trên 98%, ẩm độ hạt dưới 10% và hoàn toàn không bị sâu mọt. Đồng thời, mỗi giống lại có đặc tính riêng — có loại thích hợp gieo vào mùa mưa, có loại lại phù hợp mùa nắng — vì vậy, việc nắm rõ thông tin đặc điểm giống là yếu tố quyết định.

Với kinh nghiệm và quy trình kiểm soát nghiêm ngặt, công ty chúng tôi cung cấp đa dạng giống rau ăn lá đạt chuẩn chất lượng cao, đáp ứng đầy đủ các tiêu chí kỹ thuật nêu trên. Nguồn hạt giống luôn được bảo quản tối ưu, đảm bảo tỷ lệ nảy mầm ổn định, sạch bệnh, phù hợp cho cả gieo trồng vụ mưa và vụ nắng, giúp bà con an tâm sản xuất và đạt hiệu quả kinh tế cao.

3. Chuẩn bị phân bón

Rau ăn lá là loại cây ngắn ngày nhưng cho khối lượng sản phẩm khá lớn. Do vậy, để tạo ra một sản lượng lớn cây trồng đã lấy đi từ đất một lượng dinh dưỡng tương ứng.

Lượng dinh dưỡng cây lấy từ đất là do quá trình phân giải của vi sinh vật cung cấp, phần lớn còn lại thông qua con đường phân bón.

Trong canh tác rau ăn lá,  phân hữu cơ chiếm một vai trò rất quan trọng. Ngoài việc cung cấp các chất dinh dưỡng đa lượng NPK cho cây phân hữu cơ, phân hữu cơ còn là nguồn cung cấp các nguyên tố vi lượng mà cây trồng không thể thiếu trong quá trình phát triển và tạo năng suất như Bo, mangan, coban, kẽm, molipden…Phân hữu cơ còn đóng một vai trò quan trọng khác là làm tơi xốp đất, tăng độ mùn, góp phần cải tạo đất, giữ ẩm cho đất trong mùa khô. Khi gia tăng hàm lượng mùn, chúng kết hợp với các loại phân hoá học khi bón vào đất, giảm sự thất thoát phân bón và tăng hiệu suất sử dụng của phân bón.

( phân bón đóng góp rất nhiều trong năng suất và sức tăng trưởng của cây )

Hiện nay, trên thị trường có rất nhiều loại phân hữu cơ, hữu cơ vi sinh rất tốt để sử dụng cho rau, đặc biệt có những loại phân hữu cơ vi sinh có chứa các loại vi sinh vật đối kháng khi bón vào đất chúng sẽ phát triển hạn chế sự phát triển của các loại vi sinh vật gây bệnh cho cây.

Phân hữu cơ cần bón đúng cách mới phát huy tác dụng, nên bón  phân đã được ủ hoai và bón lót trước khi trồng.

Phân hoá học: là các loại phân cung cấp các nguyên tố đa lượng cho cây chủ yếu NPK. Có loại phân đơn chỉ chứa một chất như Urê chứa đạm, KCl chỉ chứa kaly, Super lân chỉ chứa lân… Có những loại phân hổn hợp được phối chế chứa từ 2 chất trở lên như phân DAP, NPK…

Khi bón phân cho rau cần lưu ý bón đúng lượng, đúng loại, đúng thời điểm, đúng cách.

4. BÓN PHÂN (DIỆN TÍCH 1.000m2 )

Bón vôi trước cày, xới: 50 – 100kg, trước trồng 3 – 7 ngày.
Bón lót: 2 – 5m3 phân chuồng hoai mục, nếu đất có nhiều sét nên sử dụng thêm 3 – 4m3 tro trấu, nếu đất có nhiều cát thì có thể thêm từ 20–30 giạ tro dừa. Phân chuồng, tro rải đều lên líp dùng cuốc xới xáo trộn đều với đất mặt. Riêng líp gieo hạt ươm cây con cần phải tăng lượng phân chuồng và tro để đất được xốp, cây con phát triển tốt hơn.


Bón thúc: phần lớn cây rau ăn lá ngắn ngày cần phải bón phân đầy đủ và kịp thời, do đó nên ngâm phân tưới thúc. Thông thường loại phân sử dụng gồm có:

  • Bánh dầu (xác khô dầu dừa hoặc xác khô dầu đậu phộng): cứ 1kg bánh dầu ngâm 7 lít nước, thời gian ngâm từ 10 – 15 ngày bắt đầu sử dụng mới tốt.
  • Phân NPK 20 – 20 –15 : 1kg phân ngâm với 2 lít nước trong 24 giờ để phân tan hoàn toàn trong nước.
  • Phân DAP: 1 kg phân ngâm với 2 lít nước trong 12 giờ để phân tan trong nước.
  • Phân Urê hoặc MX-Hoà nước tưới: tan rất nhanh trong nước.

Áp dụng tưới thúc phân bắt đầu lúc 8 –10 ngày sau khi gieo thẳng (sạ) hoặc 3 ngày sau khi cấy, giai đoạn cây nhỏ (dưới 18 ngày sau khi gieo hoặc lần tưới phân đầu tiên sau khi cấy lượng phân tưới bằng 1/4 -1/2 lượng phân tưới cây lớn. Cứ cách nhau 3 ngày tưới phân 1 lần, tưới phân vào buổi chiều mát, sáng sớm hôm sau tưới nước rửa lá. Sau đây là lượng phân tưới cho các loại cây rau ăn lá như sau: (cho cây lớn trên 20 ngày sau khi gieo).

Đối với Cải bẹ trắng, bẹ dún, bẹ Thượng Hải, cải bẹ xanh, cải ngọt, cải rỗ, xà lách, rau quế, mồng tơi, rau muống, cải ngọt ngũ vị, cải bẹ Tam Quốc, … thay vì áp dụng tưới phân theo bảng nêu trên, có thể áp dụng cách bón phân như sau cho cả vụ trồng trên diện tích 1.000m2 :

  • Bón lót: 400gr Super lân và 50gr Kcl (Clorua Kali).
  • Bón thúc 1: (5 ngày sau khi cấy): 100 gram Urê.
  • Bón thúc 2: (10 ngày sau khi cấy): 100 gram Urê.

Rải đều Urê trên mặt luống trồng khi lá cải không bị ướt (phòng tránh bị cháy lá), sau đó tưới đều nước để phân tan nhanh trong đất. Sau đó cứ 3 ngày/lần tưới thêm nước bánh dầu (khoảng 3 lần tưới/cả vụ trồng). Muốn lá xà lách có màu vàng đẹp nên tăng cường thêm số lần tưới nước bánh dầu.

Ghi chú:

  • Đối với cây con 8-10 ngày sau khi gieo: bắt đầu tưới phân nhẹ 1/3 muỗng canh urê/10 lít nước sau đó tăng dần như bảng trên.
  • Mỗi lần pha hỗn hợp phân nêu trên với khoảng 8 lít nước để tưới trên diện tích 5 m2.
  • Lon : lon sữa bò.
  • Trước cấy và sau sạ (gieo thẳng) cần rải một lớp rơm mỏng lên líp để giữ ẩm và hạn chế đất bị lèn chặc, văng bám vào lá khi tưới nước và trời mưa.
  • Ruộng trồng luôn phải nhổ sạch cỏ dại và tưới nước đủ ẩm cho đất để cây phát triển tốt, mùa nắng thường tưới nước 2 lần vào sáng sớm và buổi chiều mát, mùa mưa tùy tình hình mà giảm số lần tưới trong ngày.

Bảng mật độ gieo, lượng giống của các loại rau ăn lá

STTCác giống rau ăn láThời gian thu hoạchKhoảng cách trồng ( cm )Lượng giống gieo/ 1000m2Lượng phân bón sử dụng
Dưới 30 ngàyTrên 30 ngày
1Cải bẹ dưa, cải canh, Cải bẹ xanh mỡ, cải ngọt, cải bó xôi, cải ngồng, cải bó xôi, cải ngồngTừ 30 – 40 ngày10–15 cm giữa các cây, hàng cách hàng 15–20 cm.Cấy 70 – 100g, gieo thẳng từ 300 – 400gBón lót: 300–400 kg phân chuồng hoai + 15–20 kg NPK (16-16-8 hoặc 20-20-15). Bón thúc: 5–7 ngày sau gieo bón 5–7 kg urê + 5–7 kg kali clorua, hòa tưới hoặc rải nhẹ.Bón lót: 500–700 kg phân chuồng hoai + 20–25 kg NPK (16-16-8 hoặc 20-20-15)
Bón thúc lần 1: 10–12 ngày sau gieo, bón 7–10 kg urê + 5–7 kg kali clorua.
Bón thúc lần 2: 20–25 ngày sau gieo, bón tiếp 5–7 kg urê + 5–7 kg kali clorua.
2Xà láchXà lách xoăn từ 35 – 45 ngày
Xà lách mỡ từ 40 – 50 ngày
Xà lách Romaine từ 50 – 60 ngày
Xà lách Batavia từ 45 – 55 ngày
Xà lách búp từ 50 – 60 ngày
Xà lách Mỹ từ 60 – 70 ngày
hàng 27–60 cm; cây 18–30 cmCấy 35 – 50g, gieo thẳng từ 200 – 300gBón lót: 500–700 kg phân chuồng hoai + 15–20 kg super lân. Bón thúc: 1–2 lần bằng 5–7 kg urê + 5–7 kg kali, hòa nước tưới hoặc rải xa gốc.Bón bổ sung: 5–7 kg urê + 5–7 kg kali chia 1–2 lần trước thu hoạch 10–15 ngày. Kết hợp tưới nước giữ ẩm, ngưng bón đạm sát ngày thu để rau giòn và bảo quản tốt hơn.
3Húng quế, tía tô, kinh giới, mùi tàuTừ 30 – 40 ngàyCây cách cây: 20–25 cm, Hàng cách hàng: 25–30 cm50 – 70 gBón lót: 500 kg phân chuồng hoai + 15 kg super lân/1.000 m². Bón thúc: 1–2 lần, mỗi lần 5 kg urê + 4–5 kg kali/1.000 m². Ngưng bón đạm 5 ngày trước thu hoạch.Bón lót: 600–700 kg phân chuồng hoai + 18–20 kg super lân/1.000 m². Bón thúc: 3 lần, mỗi lần 5–7 kg urê + 5–6 kg kali/1.000 m², sau mỗi đợt cắt hoặc 15–20 ngày/lần.
4mùi tía, mùi chịu nhiệt, thì làTừ 30 – 40 ngàyRau mùi: hàng cách hàng 15–20 cm, cây cách cây 8–10 cm. Mùi tía (tía tô): hàng 25–30 cm, cây 20–25 cm. Thì là: hàng 20 cm, cây 8–10 cm.10 – 11kg– Phân chuồng hoai: 400–500 kg
– Đạm urê: 3–4 kg
– Lân super: 8–10 kg
– Kali clorua: 2–3 kg, Bón lót toàn bộ phân chuồng + lân; chia đạm và kali làm 2 lần bón thúc.
– Phân chuồng hoai: 500–600 kg
– Đạm urê: 5–6 kg
– Lân super: 10–12 kg
– Kali clorua: 3–4 kg, Bón lót như trên; chia đạm và kali thành 3 lần bón thúc, tăng lượng ở lần giữa vụ.
5Cải cúcTừ 35 – 40 ngàyhàng cách hàng 15–20 cm, cây cách cây 10–12 cm2 – 3 kgBón lót: 500–700 kg phân chuồng hoai + 8–10 kg N + 5–6 kg P₂O₅ + 5–6 kg K₂O/1.000 m².. Bón thúc: 5–6 kg N + 3–4 kg K₂O, chia 1–2 lần.Bón lót: 800–1.000 kg phân chuồng hoai + 10–12 kg N + 6–8 kg P₂O₅ + 6–8 kg K₂O/1.000 m². Bón thúc: 8–10 kg N + 4–5 kg K₂O, chia 2–3 lần.
6Rau muốngTừ 25 – 30 ngàyHàng cách hàng 20–25 cm, Cây cách cây 10–15 cm10 – 11 kgBón lót: 500–700 kg phân chuồng hoai + 8–10 kg N + 5–6 kg P₂O₅ + 5–6 kg K₂O/1.000 m². Bón thúc: 5–6 kg N + 3–4 kg K₂O, chia 1–2 lần.Bón lót: 800–1.000 kg phân chuồng hoai + 10–12 kg N + 6–8 kg P₂O₅ + 6–8 kg K₂O/1.000 m². Bón thúc: 8–10 kg N + 4–5 kg K₂O, chia 2–3 lần.
7Mồng tơiTừ 30 – 35 ngàyhàng cách hàng khoảng 20–25 cm, cây cách cây 20 cm2,3 – 2,5 kgBón lót: 500–700 kg phân chuồng hoai mục + 8–10 kg đạm urê + 5–6 kg lân super + 5–6 kg kali clorua cho mỗi 1.000 m². Bón thúc: 5–6 kg đạm urê + 3–4 kg kali clorua, chia 1–2 lần bón trong thời gian sinh trưởng.Bón lót: 800–1.000 kg phân chuồng hoai mục + 10–12 kg đạm urê + 6–8 kg lân super + 6–8 kg kali clorua cho mỗi 1.000 m². Bón thúc: 8–10 kg đạm urê + 4–5 kg kali clorua, chia 2–3 lần bón đều trong quá trình sinh trưởng.
8rau đayTừ 22 – 25 ngàyhàng cách hàng khoảng 25–30 cm, cây cách cây 20–25 cmgieo cấy 70 – 100g, gieo thẳng từ 200 – 300gTrước gieo bón 800–1.000 kg phân chuồng hoai + 25–30 kg lân/1.000 m².Sau mỗi lần thu hái bón bổ sung 20–25 kg đạm + 15–20 kg kali/1.000 m².
9rau dềnTừ 22 – 25 ngàyHàng cách hàng 15–20 cm, cây cách cây 10–15 cmgieo cấy 70 – 100g, gieo thẳng từ 200 – 300gBón lót 800–1.000 kg phân chuồng hoai + 25–30 kg lân/1.000 m².Sau thu hoạch hoặc tỉa ăn bón bổ sung 20–25 kg đạm + 15–20 kg kali/1.000 m².
10Cần tâyTừ 35 – 50 ngàycây cách cây 40–50cm, hàng cách hàng 1.2mgieo cây 300g, gieo thẳng 1 – 1,2 kgBón lót 1.000–1.200 kg phân chuồng hoai + 25–30 kg lân/1.000 m².Bón thúc định kỳ 2–3 lần, mỗi lần 20–25 kg đạm + 15–20 kg kali/1.000 m
11Cải xoongTừ 25 – 30 ngày5 cm x 5 cm — phù hợp khi trồng cây con theo lưới, 10–15 cm — phù hợp khi gieo trực tiếp hoặc trồng trên luống để tạo không gian cho cành lá phát triển.200–300 gBón lót: 2–3 kg phân chuồng hoai + 20–25 g phân lân/m², rải thêm 1–1,5 kg vôi bột/10 m² trước trồng 7–10 ngày. Bón thúc: Cách 10–12 ngày bón 4–5 g đạm + 2–3 g kali/m²/lần, có thể xen tưới phân hữu cơ pha loãng

5. PHÒNG TRỪ SÂU BỆNH

* Sâu:

  • Sâu tơ: đối tượng các giống cải, phun thuốc Foton 5.0 ME, Kampon 600WP.
  • Sâu xanh, sâu ăn tạp: Phun thuốc Foton 5.0 ME, Kampon 600WP.
  • Rầy đen, rầy bông : phun thuốc Supracide, Confidor.
  • Bọ nhảy (con tọt lỗ) : phun thuốc Kampon 600WP, Foton 5.0 ME, Polytrin, Decis…
  • Sâu vẽ bùa: Foton 5.0 ME, Kampon 600WP.
  • Dế, kiến, sâu đất, tuyến trùng: Xử lý thuốc hạt Kampon 600WP, Regent rải đều trên mặt luống trước cấy, sau sạ (gieo thẳng).

* Bệnh:

  • Thối cổ rễ: phun thuốc No Mildew 25WP, Thane M 80WP, giảm tưới nước.
  • Cháy lá, đốm lá: Thane M 80WP, No Mildew 25WP, Bavisan 50WP, Dipcy 750WP…
  • Thối bẹ: No Mildew 25WP, Tilt, hoặc Thane M 80WP + No Mildew 25WP (40 gr + 10 gr cho bình 8 lít nước), Marthian 90SP, …

6. THU HOẠCH

Trước khi thu hoạch cần phải ngưng phun thuốc trừ sâu bệnh, tùy theo mức độ tồn độc của thuốc (thời gian cách ly) lâu hay nhanh để an toàn cho người sử dụng, thu hoạch vào buổi chiều mát, xếp vào giỏ vận chuyển nhẹ nhàng đến nơi tiêu thụ.  

7. Tổng kết kỹ thuật trồng rau ăn lá

Rau ăn lá là nhóm cây trồng phổ biến, cung cấp nguồn vitamin, khoáng chất và chất xơ dồi dào, gồm các loại như cải xanh, cải ngọt, rau muống, xà lách, mồng tơi, rau dền… Đây là nhóm cây dễ trồng, thời gian sinh trưởng ngắn, phù hợp với hầu hết các vùng khí hậu ở Việt Nam. Nhiệt độ thích hợp từ 20–30°C, yêu cầu ánh sáng trực tiếp 4–6 giờ mỗi ngày và độ ẩm đất duy trì ở mức 70–80%. Đất trồng cần tơi xốp, giàu hữu cơ, thoát nước tốt, pH 6,0–7,0. Trước khi trồng, tiến hành làm đất kỹ, lên luống rộng 1–1,2 m, cao 20–25 cm, bón lót mỗi m² 2–3 kg phân chuồng hoai mục kết hợp 0,5 kg phân lân. Chọn giống phù hợp mùa vụ, khỏe mạnh, kháng bệnh, mua từ cơ sở uy tín. Khi gieo, hạt nhỏ như cải hoặc xà lách gieo rải đều, phủ lớp đất mỏng 0,5–1 cm, hạt to như rau muống nên ngâm 3–6 giờ để kích thích nảy mầm nhanh; mật độ trồng cải 15–20 cm giữa các hàng, rau muống 1,5–2 kg hạt/100 m². Rau ăn lá có thể trồng quanh năm, ở miền Bắc vụ đông xuân ưu tiên loại chịu lạnh, miền Nam nên che lưới giảm nắng vào mùa khô. Chăm sóc gồm tưới nước đều (1–2 lần/ngày, tưới phun sương), bón thúc sau 5–7 ngày bằng phân đạm hoặc NPK hòa loãng, lặp lại sau 10–15 ngày, làm cỏ và xới nhẹ để đất thoáng. Cần phòng trừ sâu tơ, sâu xanh, rệp, bệnh sương mai, thối nhũn bằng biện pháp IPM, ưu tiên chế phẩm sinh học, tránh dùng thuốc hóa học gần thời gian thu hoạch. Rau thường thu sau 20–30 ngày tùy loại, rau muống và mồng tơi có thể cắt nhiều lứa; khi thu cắt sát gốc hoặc nhổ cả cây, loại bỏ lá già, rễ dập, rửa sạch, để ráo và bảo quản ở 5–10°C để giữ tươi lâu. Để đạt năng suất cao, cần lựa chọn giống đúng mùa vụ, dùng phân hữu cơ hoai mục, trồng xen hoặc luân canh để cải tạo đất và hạn chế sâu bệnh, tuyệt đối không bón phân tươi hoặc phun thuốc BVTV trong giai đoạn gần thu hoạch.

Chia sẻ tới bạn bè và gia đình

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *